Luật THADS (sửa đổi): Nhiều quy định mới về cải cách thủ tục, rút ngắn thời gian THA (bài 2, tiếp theo bài 1)
08/01/2026
Đối với trình tự, thủ tục thi hành án, Luật THADS (sửa đổi) tiếp tục kế thừa quy định của Luật THADS hiện hành, bao gồm cả các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế. Tuy nhiên, Luật đã quy định từng thời hạn, thủ tục trong quy trình tổ chức thi hành án đã được rà soát để “đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí”, cụ thể (tiếp theo bài 1):
Thứ nhất, quy định rõ hơn về việc xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án
Sửa đổi quy định về thủ tục xử lý tài sản mà bản án, quyết định hình sự tuyên kê biên để bảo đảm thi án theo hướng Chấp hành viên xử lý tài sản theo hiện trạng thực tế tài sản (nếu tài sản thay đổi sau khi có bản án) nhằm rút ngắn thời gian, thủ tục để bảo đảm thu hồi tối đa tài sản cho Nhà nước.
Thứ hai, sửa đổi quy định về thủ tục thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo hướng xác định đúng bản chất của các biện pháp khẩn cấp tạm thời để đưa ra phương án tổ chức thi hành phù hợp:
Luật THADS quy định theo hướng nhanh gọn, phù hợp với tính chất phải kịp thời của loại quyết định này như: (i) Đối với phần lớn các quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, sau khi cơ quan THADS ra quyết định thi hành án, Chấp hành viên chỉ thực hiện thủ tục thông báo quyết định thi hành án là hoàn thành việc thi hành án; (ii) Không quy định thủ tục áp dụng các biện pháp bảo đảm để thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời về cấm chuyển dịch tài sản, phong tỏa tài khoản vì không cần thiết, bản chất các loại quyết định khẩn cấp tạm thời này đã là các biện pháp bảo đảm thi hành án, không phát sinh thủ tục tổ chức thi hành nên chỉ cần thực hiện thông báo theo thủ tục chung; (iii) Không quy định phải thực hiện thủ tục kê biên, xử lý tài sản để thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời về cho thu hoạch, bán hoa màu, từ đó cắt giảm được thời gian tổ chức thực hiện công việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản...
Thứ ba, xác định rõ phương án xử lý đối với từng loại quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm:
Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đang được thi hành thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án. Trường hợp bản án, quyết định đã bị hủy thì cơ quan THADS sẽ ra quyết định đình chỉ thi hành án đối với phần bị hủy (toàn bộ hoặc một phần), trừ những phần đã thi hành xong. Trường hợp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định thì việc thi hành án được thực hiện theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án và quyết định sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành phù hợp với nội dung quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm. Việc giải quyết hậu quả đối với phần bản án, quyết định đã được thi hành xong nhưng bị hủy được thực hiện theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm và bản án, quyết định mới.
Thứ tư, về áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án
- Về biện pháp phong tỏa tài khoản: Quy định biện pháp phong tỏa tài khoản không chỉ được áp dụng với tiền trong tài khoản mà còn được áp dụng với tài sản số, tài sản khác trong tài khoản. Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản phải thực hiện phong tỏa tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án; trường hợp số tiền, giá trị tài sản trong tài khoản ít hơn nghĩa vụ của người phải thi hành án hoặc không xác định được giá trị tài sản trong tài khoản thì phong tỏa toàn bộ số tiền, tài sản số, tài sản khác trong tài khoản.
- Sửa tên, phạm vi biện pháp “tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản” thành “Tạm ngừng giao dịch, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản”. Quy định trách nhiệm của người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản: “không được thực hiện việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, để thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng tài sản và các giao dịch khác đối với tài sản đó; gây hư hỏng, đánh tráo, làm mất, hủy hoại tài sản thay đổi kết cấu, thay đổi hiện trạng tài sản cho đến khi nhận được quyết định khác của Chấp hành viên. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên dẫn đến đương sự chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thực hiện các giao dịch về tài sản hoặc thay đổi hiện trạng tài sản thì bị xử lý theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
- Về biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ cơ bản giữ như quy định hiện hành: Bổ sung biện pháp “tạm hoãn xuất cảnh” thuộc thẩm quyền áp dụng của Thủ trưởng cơ quan THADS. Quy định rõ người phải thi hành án chưa thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án theo bản án, quyết định thì có thể bị tạm hoãn xuất cảnh, trừ các trường hợp: Có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đồng ý để cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản để thi hành án, đồng thời đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó; nghĩa vụ thi hành án đã được chuyển giao theo quy định của Luật; khi người phải thi hành án bị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định dẫn độ theo quy định của Luật Dẫn độ; trường hợp khác theo quy định của pháp luật (bao gồm cả các Luật về xuất, nhập cảnh, pháp luật khác có liên quan và sau này Nghị định của Chính phủ cũng sẽ dự kiến quy định một số trường hợp cụ thể).
Thứ năm, về biện pháp kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án
Luật THADS (sửa đổi) đã rà soát toàn bộ các quy định hiện hành về biện pháp kê biên tài sản để đưa các nội dung có cùng tính chất, phạm vi, đang được đặt rải rác ở các Điều khác nhau vào từng Điều luật, gắn với từng thủ tục cụ thể, đảm bảo rõ ràng, khoa học, dễ áp dụng.
Theo đó, đối với các biện pháp cưỡng chế khác thì mỗi biện pháp cưỡng chế được thiết kế ở 1 Điều. Riêng biện pháp kê biên, xử lý tài sản là một biện pháp quan trọng, được áp dụng phổ biến với thủ tục chặt chẽ nên được quy định tại nhiều Điều (từ Điều 78 đến Điều 87), bao gồm: Quyết định kê biên; tài sản không được kê biên; thực hiện kê biên; xử lý tài sản sau khi kê biên; thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên; bán tài sản kê biên; tạm dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá tài sản thi hành án; hủy kết quả đấu giá tài sản; giao tài sản để thi hành án; đăng ký, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
- Về quyết định kê biên: Quy định chung về điều kiện để ra quyết định kê biên. Theo đó: Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ nếu tài sản đó được chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên kê biên tài sản hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Trường hợp người thứ ba đang giữ hoặc phải trả tài sản cho người phải thi hành án mà tài sản đó đã được xác định bằng bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên vẫn được kê biên, xử lý để thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện phải thu hồi đất nhưng chưa có quyết định thu hồi đất hoặc trường hợp được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì Chấp hành viên vẫn được kê biên, xử lý để thi hành án.
- Quy định về việc ra quyết định kê biên đối với một số tài sản cụ thể, bao gồm: Tài sản là quyền sử dụng đất; nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất; tài sản cầm cố, thế chấp; hoa lợi; quyền sở hữu trí tuệ. Trong đó, bổ sung quy định về quyền kê biên đối với trường hợp tài sản thi hành án là tài sản gắn liền với đất và quyền thuê trong hợp đồng thuê đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hằng năm trường hợp hiện trạng tài sản là quyền sử dụng đất khác với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất thì Chấp hành viên kê biên, xử lý theo quy định của pháp luật; trường hợp tài sản là nhà ở duy nhất thì người phải thi hành án phải có cam kết xác nhận và chứng minh tài sản là nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình, trường hợp nhà ở duy nhất đó được người phải thi hành án đồng ý kê biên hoặc trường hợp đã được bản án, quyết định tuyên kê biên hoặc trường hợp nhà ở là tài sản bảo đảm đã được bản án, quyết định tuyên xử lý để thi hành án thì Chấp hành viên vẫn có quyền kê biên.
- Tài sản không được kê biên: Đối với trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường vẫn thuộc tài sản không được kê biên như quy định hiện hành nhưng trừ trường hợp tài sản đó gắn liền với các tài sản bị kê biên, xử lý.
- Thực hiện kê biên: Khi kê biên tài sản là nhà ở của người phải thi hành án đang cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo cho người đang thuê, mượn, ở nhờ biết. Trường hợp tài sản cho thuê, mượn, ở nhờ thì người đang thuê, mượn, ở nhờ có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư đến thời điểm cơ quan thi hành án dân sự giao tài sản cho người mua tài sản hoặc người nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án, trừ trường hợp việc thuê, mượn, ở nhờ đã được xác định trong bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Quyền, lợi ích hợp pháp của người thuê, mượn, ở nhờ thực hiện theo quy định của pháp luật. Nếu người thuê, mượn, ở nhờ có hành vi chống đối, cản trở việc thi hành án thì Chấp hành viên buộc họ, những người khác có mặt tự chuyển tài sản và ra khỏi nhà, kể cả chưa đến hạn theo hợp đồng. Trường hợp họ không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà bị kê biên.
Khi kê biên mà phát hiện thêm tài sản khác của người phải thi hành án tại địa điểm kê biên chưa có trong quyết định kê biên thì Chấp hành viên kê biên tài sản đó và ghi nhận trong biên bản kê biên. Ngay sau khi kết thúc việc kê biên, Chấp hành viên phải ra quyết định kê biên bổ sung đối với tài sản đó. Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên sửa đổi, bổ sung quyết định kê biên theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 52 của Luật này.
- Xử lý tài sản sau khi kê biên
Quy định phương án xử lý trong trường hợp có tài sản của người khác không thuộc đối tượng kê biên thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản di dời tài sản ra khỏi tài sản kê biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được thông báo. Hết thời hạn trên mà người có tài sản không di dời tài sản thì Chấp hành viên thực hiện việc bán tài sản đó. Trường hợp tài sản không thể di dời, tháo dỡ hoặc việc di dời, tháo dỡ làm giảm đáng kể giá trị tài sản thì tài sản đó được thẩm định giá, xác định giá, bán cùng tài sản đã kê biên. Trong thời gian chờ xử lý, tài sản đó được bảo quản cùng tài sản đã kê biên, người có tài sản có quyền nhận lại tài sản sau khi thanh toán các chi phí phát sinh. Người có tài sản được hoàn trả tiền bán tài sản sau khi trừ chi phí xử lý tài sản đó. Số tiền thu được từ việc bán tài sản được xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều 59 của Luật này.
- Luật sử dụng khái niệm “thẩm định giá, xác định giá tài sản kê biên” thay cho khái niệm “định giá tài sản kê biên” như quy định hiện hành.
+ Quy định việc ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày thực hiện xong việc kê biên. Bổ sung quy định về việc “thẩm định giá, xác định giá tài sản là vàng, chứng khoán, tài sản số hoặc tài sản đặc thù khác theo quy định của pháp luật”.
+ Quy định các căn cứ thẩm định giá, xác định giá lại tài sản: (i) Có kết luận của cơ quan, người có thẩm quyền về việc Chấp hành viên hoặc doanh nghiệp thẩm định giá có vi phạm nghiêm trọng dẫn đến sai lệch kết quả thẩm định giá lại, xác định giá; (ii) Đương sự có văn bản yêu cầu thẩm định giá lại, xác định giá lại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá, xác định giá lần đầu. Việc thẩm định giá lại, xác định giá lại theo yêu cầu của đương sự chỉ được thực hiện một lần. Người yêu cầu phải chịu chi phí và phải nộp ngay tạm ứng chi phí thẩm định giá lại, xác định giá lại theo quy định của Chính phủ; (iii) Chứng thư thẩm định giá đã hết hiệu lực trước khi có thông báo công khai việc đấu giá tài sản lần đầu, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận về việc tiếp tục sử dụng giá theo chứng thư đó.
+ Xác định rõ giá khởi điểm để đấu giá lần đầu là giá theo kết quả thẩm định giá, xác định giá tại khoản 1 Điều này hoặc giá do đương sự thỏa thuận. Trường hợp thẩm định giá, xác định giá lại thì kết quả thẩm định giá, xác định giá lại được lấy làm giá khởi điểm để đấu giá theo quy định của Luật này.
- Về bán tài sản kê biên:
+ Sửa đổi quy định về trường hợp chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án nhằm rút ngắn thời gian, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật trong tổ chức thi hành án, cụ thể như sau: Giảm thời hạn chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung từ 90 ngày đối với bất động sản, 30 ngày đối với động sản xuống còn 15 ngày đối với bất động sản, 05 ngày làm việc đối với động sản. Đối với những lần bán tài sản tiếp theo thì có quyền ưu tiên mua trước thời điểm mở cuộc đấu giá 03 ngày làm việc.
+ Bổ sung quy định trường hợp không ký được hợp đồng dịch vụ với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản thì Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản trên địa bàn thực hiện việc đấu giá tài sản.
Luật đã bổ sung quy định về các căn cứ tạm dừng, dừng việc tổ chức đấu giá, phiên đấu giá tài sản thi hành án (còn nữa)./.
Địa chỉ: 126 Đinh Tiên Hoàng, phường Yên Đỗ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Điện thoại: 02693.874.768.
Thư điện tử: gialai@moj.gov.vn